Bệnh tim bẩm sinh trên X quang ngực

Với sự ra đời của siêu âm tim, CT và MRI tim, vai trò của chụp X-quang ngực trong việc đánh giá bệnh tim bẩm sinh phần lớn đã được xếp vào một mối quan tâm trong lịch sử và học thuật

123124124124

Tổng quan

Kỹ thuật viên Kỹ thuật Hình ảnh Y học cho biết, cần có một cách tiếp cận có hệ thống để đánh giá X quang phổi ở trẻ em. Hiểu biết chi tiết về các đường bờ bình thường của trung thất - tim trên phim X quang phổi là cần thiết nếu có bất thường sẽ có thể nhận ra, cũng như nhận biết được giới hạn bình thường của mạch máu phổi.

Việc giải thích cũng dễ dàng hơn đáng kể (và bạn có thể tranh luận rằng đó là gian lận) nếu có sẵn kiến thức về việc trẻ bị tím tái hay không tím tái.

Các bước tiếp cận

Bước 0: đánh giá kỹ thuật

Trước khi bạn bắt đầu, điều cần thiết là phải đánh giá tính đầy đủ của kĩ thuật chụp X-quang phổi. Phim không được xoay, ưỡn quá mức hay gù gập góc. Một sự cố gắng hít vào đủ sâu cũng cần được đánh giá trên phim.

Bước 1: sự phân bố mạch máu phổi

Việc xác định xem mạch phổi bình thường, sung huyết (chủ động hay thụ động) hay giảm mật độ là điều cần thiết trong việc thu hẹp phạm vi chẩn đoán.

Mạch máu phổi bình thường: Hệ thống mạch máu bình thường không hữu ích ở chỗ nó không thu hẹp chẩn đoán phân biệt. Nó có thể đại diện cho các dạng dị tật tim bẩm sinh mức độ nhẹ hoặc phát hiện sớm, hoặc đại diện cho các bất thường không dẫn đến thay đổi lưu lượng hoặc áp lực mạch máu phổi, chẳng hạn như bất thường van tim đơn giản của hẹp eo động mạch chủ

Sung huyết mạch máu phổi:

-  Mạch máu phổi sung huyết có thể chủ động hoặc thụ động, và tương ứng lần lượt là tăng lưu lượng máu và tăng áp lực tĩnh mạch phổi.

-  Sung huyết chủ động, do đó được thấy trong các dòng thông từ trái sang phải (shunt trái - phải) khi đường ra thất phải xấp xỉ 2, 5 lần so với thất trái. Mặc dù các mạch máu mở rộng, được nhìn thấy ở ngoại vi nhiều hơn bình thường và có thể ngoằn ngoèo, trái ngược với sung huyết thụ động, các bờ vẫn rõ ràng vì có một ít phù khoảng kẽ.

-  Sung huyết thụ động là do áp lực tĩnh mạch phổi tăng cao và phản ánh sự tắc nghẽn hoặc rối loạn chức năng tim trái.

Giảm mật độ mạch máu phổi:

-  Thiếu máu của mạch máu phổi biểu hiện giảm lưu lượng máu qua tuần hoàn phổi, thường là kết quả của tắc nghẽn đường ra thất phải với một shunt phải-trái kèm theo.

-  Nếu các động mạch phổi gần được mở rộng, kèm theo dấu hiệu mạch máu ngoại vi thưa thớt, thì nên nghĩ đến tăng áp động mạch phổi.

Bước 2: động mạch chủ

Động mạch chủ có thể bị thay đổi về kích thước, vị trí hoặc hình dạng.

Kích thước: Động mạch chủ có thể bình thường, tăng hoặc giảm kích thước; Núm động mạch chủ mở rộng có thể đại diện cho:

-  Sự giãn nở sau chỗ hẹp

-  Tăng lưu lượng máu: còn ống động mạch (PDA); thân chung động mạch; suy van; tứ chứng Fallot nặng

-  Tăng huyết áp hệ thống: Núm động mạch chủ nhỏ thường biểu thị lưu lượng máu giảm thường do ASD hoặc VSD. Nó cũng có thể là giảm sản nguyên phát trong hội chứng giảm sản tim trái.

Vị trí: Mặc dù hầu hết các dị dạng vòm động mạch chủ bên phải(RAA) là ngẫu nhiên với chỉ ~ 10% liên quan đến bệnh tim bẩm sinh, nhưng trong trường hợp hình ảnh giải phẫu của các nhánh động mạch phản chiếu ở bên đối diện, đại đa số có dị tật tim, thường gặp nhất là tứ chứng Fallot

Hình dạng: Sự bất thường phổ biến nhất của hình dạng đươc gọi là dấu hiệu hình số 3 được thấy trong hẹp eo động mạch chủ.

IMG_1552

Bước 3: động mạch phổi

Theo bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, động mạch phổi có thể bình thường, tăng hoặc giảm kích thước.

Động mạch phổi nhỏ hoặc không rõ ràng có thể là do nó nhỏ thứ phát sau bệnh giảm sản bẩm sinh hoặc bất sản, giảm lưu lượng phổi do tắc nghẽn đường ra phổi như trong tứ chứng Fallot, hoặc nó nằm bất thường như trường hợp của thân chung động mạch và chuyển vị của đại động mạch.

Động mạch phổi mở rộng có thể đại diện cho:

-  Sự giãn nở sau chỗ hẹp: trong hẹp van động mạch phổi, động mạch phổi trái giãn nở ưu tiên do sự định hướng của dòng chảy.

-  Tăng lưu lượng máu phổi: shunt từ trái sang phải; suy van động mạch phổi

-  Tăng áp động mạch phổi: cả động mạch phổi phải và trái sẽ to ra, điều này cần phân biệt với hẹp van động mạch phổi; cũng có thể có sự thưa thớt của mạch máu phổi ngoại vi.

Bước 4: kích thước và hình dạng tim

Bản thân trái tim có thể có kích thước bất thường hoặc có những thay đổi về hình dạng thể hiện sự mở rộng buồng tim bên dưới hoặc bất thường về giải phẫu. Điều quan trọng nữa là đánh giá để tìm đúng hướng của tim bằng cách tìm gan/dạ dày bên dưới cơ hoành và xem đánh dấu bên trên phim có phù hợp.

Bước 5: cột sống, khung xương sườn và xương ức

Các đốt sống cần được đánh giá xem có dị tật bẩm sinh bao gồm vẹo cột sống ở 6% bệnh nhân bị tim bẩm sinh, nhưng chỉ có 0, 4% dân số bình thường.

Có thể thấy các khía xương sườn gặp trong hẹp eo động mạch chủ hoặc có thể chỉ có 11 xương sườn ở bệnh nhân Down. Trẻ mắc hội chứng Down cũng có thể có biểu hiện xương ức quá phát nhiều đoạn.