B.s Trường Dược Sài Gòn chia sẻ về bệnh viêm đốt sống đĩa đệm do lao

Viêm đốt sống địa đệm do lao, còn được gọi là bệnh Pott, đề cập đến bệnh viêm xương tủy thân đốt sống và viêm đĩa đệm do bệnh lao (TB)

123

Cột sống là vị trí thường xuyên nhất của bệnh lao cơ xương và các triệu chứng liên quan thường gặp là đau lưng và yếu/liệt chi dưới.

1.Dịch tễ học

Theo bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, viêm đốt sống đĩa đệm do lao là một trong những bệnh nhiễm trùng cột sống phổ biến hơn ở các quốc gia có bệnh lao phổ biến. Thật không may, tỷ lệ mắc bệnh viêm đốt sống đĩa đệm do lao, cũng như các dạng lao khác, đang gia tăng do nhiều chủng kháng thuốc mới.

Viêm đĩa đệm và/hoặc viêm xương tủy chiếm khoảng 50% tổng số bệnh lao cơ xương và thường ảnh hưởng đến đốt sống ngực thấp và đốt sống thắt lưng cao của cột sống

2.Lâm sàng

Bệnh nhân thường có biểu hiện đau lưng, yếu hoặc liệt chi dưới, và biến dạng gù cột sống. Các triệu chứng cơ năng (sốt và sụt cân) cũng thường gặp nhưng không rõ rệt như viêm đĩa đệm/viêm xương tủy do vi khuẩn.

3.Bệnh học

Nhiễm trùng lao lây lan theo đường máu qua đường động mạch hoặc theo đám rối tĩnh mạch Batson, với vị trí phơi nhiễm ban đầu xảy ra ở phổi hoặc hệ thống sinh dục. Tương tự như nhiễm trùng sinh mủ, bề mặt phía trước đốt sống thường là vị trí xuất hiện đầu tiên tại cột sống, sau đó là sự tham gia của trung tâm thân đốt sống. Sự tham gia của các yếu tố phía sau là rất hiếm.

Sự tham gia ban đầu của thân đốt sống có thể không phân biệt được với bệnh viêm đốt sống sinh mủ sớm; tuy nhiên, khe đĩa đệm là được bảo tồn trong giai đoạn đầu và giai đoạn trung gian của viêm đốt sống do lao, ngược lại với nhiễm trùng do vi khuẩn sinh mủ. Phá hủy xương với áp xe trong đốt sống tăng cường ngấm thuốc ở ngoại vi và áp xe dưới dây chằng cạnh cột sống có thành mỏng thể hiện những thay đổi của viêm tĩnh mạch xung quanh được giới hạn, thường gặp trước khi có sự tham gia của khe đĩa đệm.

Theo bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn, sau khi thân đốt sống bị dính vào, nhiễm trùng sẽ lan dọc theo mặt dưới của dây chằng dọc trước để kéo theo nhiều đốt sống liền kề và vào các mô mềm ngoài màng cứng/cạnh sống tạo thành các ổ áp xe. Sự phá hủy đĩa đệm thường không xuất hiện trong viêm cột sống do lao, được cho là do bệnh lao thiếu các enzym phân giải protein nhưng lại có trong hầu hết các bệnh nhiễm khuẩn sinh mủ.

Thường có sự xẹp từ từ của một hoặc thường là nhiều thân đốt sống. Điều này dẫn đến biến dạng gù cột sống cấp tính hay biến dạng" gibbus ". Sự gập góc này cùng với mô hạt ngoài màng cứng và các mảnh xương có thể dẫn đến chèn ép tủy sống. Không giống như nhiễm trùng sinh mủ, các đĩa đệm có thể được bảo tồn và nó thường liên quan đến cột sống ngực. Trong lao cột sống giai đoạn muộn, thường gặp những ổ áp-xe lớn cạnh cột sống không đau hoặc có mủ, dẫn đến biểu hiện một "áp-xe lạnh".

4.Đặc điểm hình ảnh

4.1 X quang thường

Sự lây lan của nhiễm trùng thường được mô tả là 'dưới dây chằng': bên dưới dây chằng dọc trước, thường không có sự tham gia của các yếu tố phía sau và thường liên quan đến nhiều mức đốt sống.

Viêm đốt sống đĩa đệm do lao có thể khó phát hiện ở giai đoạn đầu vì khe đĩa đệm được bảo tồn tương đối.

Giảm chiều cao đốt sống thường được thấy với sự bất thường của mặt trước trên của đốt sống là dấu hiệu tương đối sớm và tinh tế. Do sự mở rộng ở dưới dây chằng, có thể có một số bất thường ở bờ trước đốt sống. Đây là biểu hiện cổ điển của lao cột sống.

Sau đó, các ổ áp xe cạnh cột sống có thể phát triển và có thể lớn đáng kể.

Đốt sống ngà voi có thể là kết quả của tái cốt hóa. Các đặc điểm kèm theo khác có thể bao gồm:

• Biến dạng gù cột sống

• Đốt sống phẳng

Cũng như các bệnh lao ngoài phổi khác, phim ngực có thể không phát hiện tổn thương(không thấy tổn thương phổi lên tới 50% trường hợp), bắt nguồn từ tổn thương phổi nguyên phát, không có triệu chứng trên lâm sàng.

4.2 CT và MRI

Hình ảnh mặt cắt ngang được yêu cầu để đánh giá tốt hơn mức độ tổn thương và đặc biệt là sự hiện diện của thành phần ngoài màng cứng và chèn ép tủy sống. Các kỹ thuật hình ảnh Y học như MRI là phương thức được lựa chọn cho điều này, với CT có tương phản là lựa chọn thứ 2.

Các đặc điểm bao gồm sự bất thường của cả mặt trên và mặt trước của thân đốt sống, với sự phù tủy xương và ngấm thuốc được thấy trên MRI:

• T1: tín hiệu thấp ở tủy xương ở các đốt sống liền kề

• T2: tín hiệu cao ở tủy xương, đĩa đệm, mô mềm nhiễm trùng

• T1 C + (Gd): tủy xương, dưới dây chằng, đĩa đệm, màng cứng ngấm thuốc

Các ổ áp xe cạnh sống thường có giới hạn rõ, với dịch ở trung tâm và ngấm thuốc viền.

IMG_5297

5. Chẩn đoán phân biệt

Ở nhiều nơi trên thế giới đang phát triển, lao là nguyên nhân phổ biến nhất gây nhiễm trùng thân đốt sống, với phần lớn các trường hợp gặp ở bệnh nhân dưới 20 tuổi. Bệnh lao cũng có thể ảnh hưởng đến màng nội tủy của cột sống, gây ra chứng viêm màng não dữ dội và tăng cường đột ngột

• Brucellosis: có thể biểu hiện như viêm xương tủy dạng u hạt ở cột sống khó phân biệt với lao. Cả hai đều là trực khuẩn tiết axit nhanh, có thể gây ra (các) u hạt

• Nhiễm trùng nấm

• Bệnh sarcoidosis

• Nhiễm trùng sinh mủ

So với nhiễm trùng sinh mủ, viêm đốt sống do lao có chiều cao khe đĩa đệm tương đối được bảo tồn, hình thành các ổ áp xe lớn có thành mịn ngấm thuốc viền và thường có sự tham gia toàn thân của nhiều cơ quan.