Cùng tìm hiểu bệnh lý viêm màng não mủ và phương pháp điều trị

Khi nghe đến viêm màng não, hầu hết mọi người đều cho rằng đây là căn bệnh chủ yếu xảy ra ở trẻ em ngoài ra còn gặp phải ở người lớn nữa. Bệnh do vi khuẩn não mô cầu gây ra khiến tình trạng nguy hiểm tập trung tại màng não vùng vòm sọ.



Não mô cầu gây viêm màng não mủ nhìn trên kính hiển vi

NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ?

Viêm màng não mủ hay còn gọi là viêm màng não vi trùng. Là một trong những bệnh phổ biến ở trẻ em, viêm màng não vi khuẩn gặp nhiều nhất là ở lứa tuổi dưới 5 tuổi. Các vi khuẩn gây bệnh xuất hiện trong khoang dịch não tủy, làm tổn thương hệ thần kinh, gây tỷ lệ tử vong cao và để lại những di chứng nặng nề về vận động, nhận thức.


Ba loại vi khuẩn gây bệnh viêm màng não mủ hay gặp nhất là: phế cầu (Streptococcus pneumonia), Haemophilus influenza tuýp b, não mô cầu (Neisseria meningitidis). Ở trẻ sơ sinh vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: Escherichia coli, Listeria monocytogenes, streptococcus nhóm B


Ngoài ra nhiều loại vi khuẩn và nấm khác cũng có thể là căn nguyên gây viêm màng não mủ nhưng ít gặp hơn và thường xảy ra trên những người bệnh có tình trạng suy giảm miễn dịch, du khuẩn huyết.

NHỮNG TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP Ở BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ

Đối với trẻ em trên 18 tháng tuổi:


  • Hội chứng nhiễm khuẩn: sốt cao đột ngột, viêm long đường hô hấp trên, quấy khóc hoặc li bì, mệt mỏi, ăn uống kém, da tái xấu.

  • Hội chứng màng não: buồn nôn, nôn ói, đau đầu (ở trẻ nhỏ thường quấy khóc hoặc khóc thét từng cơn), có thể có biểu hiện sợ ánh sáng.

  • Các biểu hiện khác: co giật, hôn mê, liệt, xuất hiện tử ban (trong nhiễm não mô cầu)

Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 3 tháng tuổi

Bệnh thường xảy ra trên trẻ sinh non, nhiễm trùng ối, ngạt sau sinh.


  • Hội chứng nhiễm khuẩn: thường không rõ rệt, có thể không sốt, thậm chí còn hạ thân nhiệt.

  • Hội chứng màng não cũng không đầy đủ hoặc kín đáo. Trẻ thường bỏ bú, nôn trớ, thở rên, thở không đều hoặc có cơn ngừng thở, thóp phồng hoặc căng nhẹ, bụng chướng, tiêu chảy, giảm trương lực cơ, co giật.


Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, giai đoạn hệ thần kinh đang phát triển nên gây ra biến chứng nặng nề:


  • Tử vong: mặc dù có nhiều tiến bộ trong hồi sức thần kinh, tỷ lệ tử vong của viêm màng não mủ còn rất cao do tổn thương não nặng nề, sốc nhiễm trùng, rối loạn nước-điện giải, suy kiệt...

  • Tổn thương dây thần kinh sọ não gây điếc, mù, câm...

  • Áp xe não, áp xe dưới màng cứng, viêm tắc tĩnh mạch, viêm quanh mạch máu não...

  • Tắc nghẽn dịch não tuỷ gây não úng thuỷ.

  • Ngoài ra còn các biến chứng ngoài hệ thần kinh, tuỳ theo căn nguyên vi khuẩn gây ra như sốc nhiễm khuẩn, xuất huyết nội (gặp trong nhiễm khuẩn huyết, VMN do não mô cầu), viêm khớp, viêm thận, viêm phổi...



Bệnh viêm màng não làm cho các lớp mô xung quanh não bị nhiễm trùng

BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ CÓ THỂ LÂY TRUYỀN QUA NHỮNG CON ĐƯỜNG NÀO?

Theo các Bác sĩ – Giảng viên Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cho biết những con đường mà bệnh viêm màng não mủ có thể lây truyền như sau:

Viêm màng não mủ thứ phát


  • Ổ nhiễm trùng ở xa màng não đi theo đường máu đến: chiếm phần lớn các trường hợp viêm màng não mủ.

  • Vị trí xuất phát thường gặp nhất là từ nhiễm trùng đường hô hấp, vi khuẩn cư trú ở niêm mạc vùng hầu họng rồi sau đó xâm nhập vào máu để vào màng não.

  • Vị trí xa khác như viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm tắc tĩnh mạch, trong bỏng nặng, đặt catheter lâu ngày: hiếm gặp

  • Ổ nhiễm trùng lân cận như viêm xoang mũi, viêm tai giữa, viêm xương chũm, viêm mô tế bào hốc mắt hoặc viêm xương- tuỷ xương các xương sọ não hoặc xương cột sống.

Viêm màng não mủ nguyên phát

Vi khuẩn xâm nhập trực tiếp qua vết thương hở do chấn thương, phẫu thuật vùng sọ não, cột sống... hoặc do thủ thuật chọc dò dịch não tuỷ. Từ đó chúng đi theo dịch não tủy để đến tủy sống và khoang dưới nhện. Sự nhân lên của vi khuẩn tại đây rất nhanh, khởi phát một chuỗi các phản ứng viêm mạnh mẽ. Hậu quả của phản ứng viêm này là sự xâm nhập bạch cầu đa nhân trung tính vào khoang dịch não tủy (sinh mủ).

BỆNH VIÊM MÀNG NÃO MỦ CẦN PHẢI ĐIỀU TRỊ THEO NHỮNG PHƯƠNG PHÁP NÀO?

Điều trị viêm màng não mủ cần tiến hành sớm, theo dõi chặt chẽ để thay đổi điều trị thích hợp và xử trí nhanh chóng các biến chứng. Điều trị gồm có hai phần chính: điều trị đặc hiệu và điều tị nâng đỡ.

Điều trị đặc hiệu

Với phương pháp điều trị này các bác sĩ sẽ sử dụng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh.


Cần kết hợp chẩn đoán căn nguyên và điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh sớm. Kháng sinh thường được chỉ định ngay sau khi chọc dịch não tủy nếu nghi ngờ viêm nàng não mủ.


Một số tình trạng bệnh nhân chưa cho phép chọc dịch não tủy thì vẫn tiến hành điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm được lựa chọn dựa vào tần suất gây bệnh của các loại vi khuẩn, khả năng thấm qua hàng rào máu não, ít gây tác dụng phụ.


Sau khi có kết quả kháng sinh đồ thì điều trị theo kháng sinh đồ.


Điều trị có thể kéo dài từ 10 ngày đến 3 tuần tùy theo tác nhân gây bệnh.

Điều trị nâng đỡ bao gồm


  •  Bảo đảm thông khí: tư thế phù hợp, hút đờm dãi, cung cấp đủ oxy.

  • Hạ sốt: cởi bớt quần áo, lau mát, sử dụng thuốc paracetamol, thuốc an thần (nếu có sốt co giật)

  • Chống phù não.

  • Cân bằng nước-điện giải.

  • Đảm bảo dinh dưỡng, đề phòng và chống loét tì đè do nằm lâu, tập vật lý trị liệu.


Một số trường hợp viêm màng não mủ có biến chứng nặng như áp xe não cần được xử trí bằng phương pháp phẫu thuật.


Để tránh mắc bệnh viêm màng não mủ do não mô cầu, cần vệ sinh cá nhân, nhất là vệ sinh họng, miệng hàng ngày. Cần cách ly bệnh nhân và tránh tiếp xúc với người bị bệnh vì vi khuẩn có thể lây qua các giọt nước bọt, chất nhầy họng do bệnh nhân ho, nói bắn ra không khí xung quanh người lành trực tiếp hít phải.