Những lưu ý về bệnh viêm mủ ngoài tim

Viêm mủ màng ngoài tim ở trẻ em là một bệnh lý tương đối phổ biến và nặng. Biến chứng tức thời là chèn ép tim cấp được chẩn đoán và xử trí cấp cứu kịp thời tránh đe dọa tính mạng trẻ.

Bệnh viêm mủ ngoài tim
Bệnh viêm mủ ngoài tim

Bệnh viêm mủ màng ngoài tim

Bác sĩ Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cho biết, viêm mủ màng ngoài tim là tình trạng khoang màng ngoài tim bị viêm nhiễm, mất bóng và thường chứa một lượng bất thường dịch dạng mủ có thể gây cản trở chức năng tống máu của tim ít hay nhiều tùy tốc độ tích lũy và khối lượng dịch.

Đây là một bệnh cảnh rất phổ biến và nặng nhất của tràn dịch màng ngoài tim mà nguyên nhân là do các vi khuẩn gây mủ, đặc biệt là tụ cầu vàng và phế cầu xâm nhập khoang màng tim theo đường máu hoặc đường kế cận, gây tổn thương viêm dưới dạng mủ tại khoang màng ngoài tim.

Viêm mủ màng ngoài tim ở trẻ em là một bệnh lý tương đối phổ biến và nặng. Biến chứng tức thời là chèn ép tim cấp được chẩn đoán và xử trí cấp cứu kịp thời tránh đe dọa tính mạng trẻ. Việc điều trị nguyên nhân cần được tiến hành triệt để, phối hợp chặt chẽ với điều trị toàn thân và kháng sinh thích hợp để tránh dẫn đến viêm dày dính màng ngoài tim co thắt, một biến chứng muộn đòi hỏi xử trí ngoại khoa bóc tách màng ngoài tim.

Nguyên nhân gây bệnh

Viêm mủ màng ngoài tim tiên phát hiếm gặp, bệnh thường liên quan đến nhiễm khuẩn ở nơi khác như viêm phổi, tràn mủ màng phổi, cốt tủy viêm, nhiễm trùng da và mô mềm.

Vi khuẩn gây viêm mủ màng ngoài tim thường gặp nhất là tụ cầu vàng sau đó là Hemophilus Influenza, liên cầu, phế cầu, não mô cầu… Vi khuẩn thường thường được đi theo đường máu từ các ổ nhiễm trùng tiên phát như viêm phổi, tràn mủ màng phổi, cốt tủy viêm… đôi khi có trường hợp sau viêm nội tâm mạc.

Triệu chứng thường gặp

Trên lâm sàng có thể gặp các biểu hiện của tràn dịch màng ngoài tim khác nhau tùy giai đoạn diễn biến bệnh và mức độ nặng của tràn dịch.

Ở giai đoạn khởi phát, chủ yếu là triệu chứng bệnh nguyên (ổ bệnh nguyên phát), kèm theo mệt mỏi, đau vùng trước tim và tiếng cọ màng tim. Giai đoạn này có thể từ vài giờ đến nhiều ngày.

Ở giai đoạn toàn phát, thường có đầy đủ các biểu hiện sau đây do tràn dịch màng ngoài tim: đau vùng trước tim, đau tăng khi nằm ngửa, dịu đi khi ngồi cúi ra trước; ho, khó thở, tím tái; ứ đọng ngoại vi: phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, đái ít; mạch nhanh, nhỏ; ngực lặng (không nhìn thấy tim đập). Khi khám thấy tiếng tim mờ (xa xăm); Mạch đảo (pulsus paradoxus) là dấu hiệu đặc trưng của chèn ép tim cấp. Có thể chỉ biểu hiện kín đáo là mạch yếu đi rõ rệt ở thì thở vào. Nhưng chắc chắn và rõ rệt nhất là sự thay đổi huyết áp. Bình thường HA tối đa lúc thở vào sâu thấp hơn lúc ngừng thở là 10mmHg, khi thấp hơn 10-20 là nghi ngờ, thấp hơn 20 là chắc chắn có tràn dịch màng tim (nếu bệnh nhân không thở máy, không mắc bệnh hen và khí phế thũng). Hiện tượng này xảy ra do thất phải nở to trong khi thở vào chèn ép tâm thất trái đang bị dịch màng ngoài tim hạn chế khả năng giãn nở nên không hút đủ lượng máu thông thường để tống ra ngoại biên. Mạch đảo là dấu hiệu rất quan trọng trong bệnh cảnh tràn dịch màng ngoài tim, chứng tỏ đang có ép tim cấp, vì còn có thể gặp trong viêm dày dính màng ngoài tim, hen phế quản nặng, bệnh cơ tim hạn chế, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, sốc giảm thể tích.

Đối với nhiều trường hợp làm các xét nghiệm thấy có những biểu hiện nhiễm khuẩn toàn thân: do các ổ bệnh tiên phát hoặc do nung mủ màng ngoài tim. Đó là biểu hiện phản ứng viêm cấp tính, bao gồm: số lượng bạch cầu và tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao trong máu ngoại vi; protein C phản ứng (C reative protein: CRP) tăng cao; tốc độ lắng máu tăng cao; cấy máu đôi khi tìm thấy vi khuẩn gây bệnh, đa số là tụ cầu, nhưng có thể gặp liên cầu, Hemophilus Influenzae và một số vi khuẩn hiếm gặp khác.

Cấy mủ tại các ổ tổn thương nguyên phát ở da, cơ, xương hoặc khớp có thể phát hiện được các vi khuẩn gây tràn dịch màng ngoài tim. Và những biểu hiện cận lâm sàng do tràn dịch màng ngoài tim cấp tính.

Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn đào tạo nhân lực ngành Y Dược chuyên nghiệp
Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn đào tạo nhân lực ngành Y Dược chuyên nghiệp

Phương pháp điều trị bệnh viêm mủ màng ngoài tim

Điều trị trước mổ:

  • Kháng sinh theo kháng sinh đồ, nếu nuôi cấy âm tính dùng cephalosporinthế hệ thứ 3 + gentamixin.
  • Lợi tiểu.
  • Chọc dò, dẫn lưu màng tim bằng catheter tĩnh mạch trung tâm.

Chỉ định phẫu thuật: Sau 7 ngày kể từ khi khởi bệnh nếu bệnh nhân còn khó thở, gan to, siêu âm còn hình ảnh tràn dịch hoặc dày dính.

Đường vào:

  • Khoang ngực trái, đường liên sườn 5 trước bên. Mở cửa sổ màng tim hút bớt mủ. Cắt màng tim rộng rãi phía trên đến phễu động mạch phổi, phía dưới giải phóng được mỏm tim, bên phải đến bờ sau xương ức, bên tráii đến bờ thàn kinh hoành. Phải bóc cả lớp màng sơ bóp chặt cơ tim, đến khi thấy tim đập tốt. Kiểm tra hiệu quả bằng áp lực TMTƯ
  • Rửa lấy hết cặn mủ màng tim, màng phổi.
  • Đặt dẫn lưu màng phổi.
  • Cắt màng tim bằng nội soi.

Điều trị sau mổ:

  • Làm xét nghiệm máu.
  • Chụp x – quang.
  • Kháng sinh theo kháng sinh đồ, hoặc phối hợp kháng sinh phổ rộng.
  • Dấn liên tục dẫn lưu 6 – 8 cm nước.
  • Rút dẫn lưu khi dẫn lưu không còn dịch.

Trên đây là chia sẻ từ bác sĩ giảng viên Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn về viêm mủ ngoài tim.